Sắc màu Tết trong văn hóa Việt nam

Đất nước Việt Nam là một đất nước đa dân tộc với 56 dân tộc anh em. Mỗi dân tộc lại có một sắc màu Tết riêng biệt, đôi khi kéo dài rất nhiều ngày tạo thành mùa gọi là mùa Tết. Mỗi sắc màu Tết đều thể hiện nét đặc trưng văn hoá riêng của mỗi dân tộc khác nhau.

Tết cổ truyền của người Chăm

Ðồng bào dân tộc Chăm còn gọi là dân tộc Chàm, hiện đang sinh sống tại một số tỉnh như Bình Thuận, Ninh Thuận và một số ít tại huyện Châu Giang tỉnh An Giang.Cũng như các dân tộc anh em khác, người Chăm ăn Tết cũng rất linh đình, nhộn nhịp. Hai lễ lớn nhất trong năm là Păng-Katê và Păng-Chabư được xem như cái Tết của họ.Păng-Katê cử hành vào ngày 1 tháng 7 theo lịch Chăm (tức khoảng tháng 9 dương lịch) và Păng-Chabư cử hành vào ngày 16 tháng 9 theo lịch Chăm (tức vào khoảng tháng 2, tháng 3 dương lịch).Vào những ngày lễ, đông đảo đồng bào Chăm từ các nơi đổ về tại ba nơi hành lễ, đó là Đền Pô Nưgar, Tháp Pô Rômê ở huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận và tháp Pô Klông Garai ở thị xã Phan Rang – Tháp Chàm.

Tết Păng Katê là ngày tế lễ các vua Chăm thuở xa xưa có công dựng nước, thuộc về dòng họ người cha, tượng trưng cho khí dương, cho nên phải cử hành vào buổi sáng sớm, còn Tết Păng Chabư là lễ cúng tế các lễ thần Pô Giang nữ, tức các hoàng hậu, công chúa Chăm, thuộc dòng họ mẹ, tượng trưng cho khí âm nên được cử hành vào buổi chiều tối.

Sáng mồng một Tết, các chức sắc Chăm cùng toàn thể bà con xa gần đều tề tựu về ba nơi hành lễ, quần áo thật mới mẻ, chỉnh tề. Các thầy Cả và các bà Bóng ngồi theo phẩm trật, thứ tự cao thấp trong căn nhà dựng trước cửa đền hay cửa tháp để tiến hành cúng lễ. Ngày mồng 2 Tết là ngày dành riêng cho các chức sắc ăn Tết tại nhà. Qua ngày thứ ba trở đi, cho đến ngày thứ 7 hay thứ 9 thì đến lượt mọi người tổ chức ăn Tết, lần lượt từ nhà này sang nhà khác. Họ mổ lợn, mổ gà vịt, bày đủ loại hoa quả, bánh trái để thiết đãi người thân. Trong dịp Tết, người Chăm không có tục kiêng cữ cho nên bạn bè, hàng xóm trong dịp ở xa có thể đến chung vui một cách thoải mái. Trong thời gian ăn Tết, người Chăm còn tổ chức  các trò vui chơi như múa quạt, tổ chức đánh cồng chiêng, ca hát uống rượu, bắn cung.

Ngoài hai lễ lớn trên, người Chăm còn có các lễ khác trong năm như: Lễ cúng Thần Nông vào tháng 4 theo lịch Chăm, cử hành vào các đền, tháp; lễ cầu đảo (Chakap Hiâu Kron) cử hành tại các đập nước hay ở các bờ sông, bờ suối; lễ cúng ruộng (Pô Phùm) để cầu cho ruộng lúa tốt tươi và lễ Tống ôn (Rija Nưgar) tổ chức vào mồng Một tháng Giêng theo lịch Chăm, để cầu cho làng xóm, gia đình được thịnh vượng, an khang.

Tết Prơ-Giê-Râm của người Cơ Tu

Vào mùa Xuân, lúc bắt đầu vụ mùa lúa mới, đồng bào các huyện Phước Sơn, Giằng, Hiên ở tỉnh Quảng Nam tổ chức ăn Tết Prơ-giê-răm. Đây là ngày lễ lớn nhất trong năm, nhà nhà đều trang trí hết sức đẹp đẽ, các loại ghẻ, cung nỏ, giáo, mác, thanh la, trống, chiêng được lau chùi cẩn thận.

Ở nhà Guơi (nhà làng) người ta dựng cột đâm trâu bằng cây gạo trạm trổ, sơn vẽ đẹp mắt. Nhiều sinh hoạt văn hoá diễn ra tại nhà Guơi như kể chuyện, nhảy múa, hát dân ca. Con gái được dịp trao đổi tâm tình và rủ nhau chơi Xuân kéo dài cả tháng…

Tết Nhảy của người Dao

Người Dao ở Việt Bắc cho rằng, ngày đầu năm không được làm việc mà chỉ lo vui chơi, thăm viếng và chúc tụng lẫn nhau. Nhà nào nhà ấy đều trang hoàng sáng sủa và dán nhiều câu đối bằng chữ Hán lên cột nhà hay trên các vách tường để đón mừng Xuân.

Người Dao đón Tết bằng “Tết Nhảy” gọi là “Nhiang Chằm Ðao” để rèn luyện sức khoẻ và võ nghệ. Tết Nhảy bắt đầu trước Tết Nguyên đán chừng vài ba hôm. Để chuẩn bị cho Tết Nhảy, những thanh niên người Dao phải tập các điệu múa, điệu nhảy, làm gươm đao bằng gỗ để múa. Trong Tết Nhảy, mỗi người phải nhảy múa đến hàng trăm lượt trong tiếng trống, tiếng thanh la giục giã…

Tết Giọt nước của người Xơ Đăng

Người Xơ Đăng ở Kon Tum ăn Tết rất giản dị và chỉ có hai Tết chính là Tết Giọt nước và Tết Lửa. Tết Giọt nước vào khoảng tháng 3 dương lịch. Sau khi mãn mùa, người Xơ Đăng bắt đầu sửa sang lại các máng nước và tổ chức lễ “cúng máng” để cầu mong Thần Nước (Yang Dak) ban cho dân làng năm mới được mùa, nước non đầy đủ.Người trong buôn làng mang choé, nồi đồng ra tại các máng nước để lấy nước mang về nhà, đồng thời tổ chức ăn uống, vui chơi suốt mấy ngày liền. Riêng “Lễ cúng máng nước” cho buôn làng thì được tổ chức tại nhà Rông, do thầy cúng tổ chức vui say, ca hát, nhảy múa, gái trai được tự do trao đổi tâm tình.

Tết của người H’Mông

Người H’Mông ở vùng cao Tây Bắc và Việt Bắc ăn Tết rất thịnh soạn, chẳng kém gì ở miền xuôi. Trong nhà trang hoàng đủ màu sắc, nhưng màu đỏ là được ưa chuộng nhất. Tết Nguyên đán của người H’Mông gọi là “NaoX-Cha”. Tết của người H’Mông thường tổ chức giữa mùa Đông giá rét, trước hay sau Tết dương lịch chỉ có mấy hôm.

Theo truyền thống, để chuẩn bị đón Tết, người H’Mông nhà nào cũng phải chuẩn bị sẵn một con lợn béo trong nhà để thịt ăn Tết, ngoài ra, còn có bánh bằng bột nếp. Ðêm Giao thừa các gia đình người H’Mông thường cử con trai đi “mở nước”, tức là đi lấy nước ngoài sông suối đem về nhà cúng tổ tiên để lấy may cho gia đình trong cả năm.

Tết của người Hrê

Tết của người Hrê ở Quảng Ngãi cũng kéo dài suốt vài tháng liền. Mỗi gia đình phải lo nấu bánh tét, làm rượu cho thật nhiều. Nhà giàu có phải nấu từ 20 đến 40 nồi bánh tét, ủ hàng trăm ché rượu cần, hạ vài con trâu để đãi khách và bà con trong buôn làng. Tất cả mọi người đều tề tựu về nhà chủ làng để ăn mừng, chúc tụng lẫn nhau. Sau đó mới lần lượt đến các nhà khác. Họ vừa ăn uống vừa múa hát. Ðàn ông thì đeo ống chinh, còn đàn bà thì đeo ống bương lấy hai tay vỗ vào đầu ống sẽ tạo thành tiếng bập bùng, bập bùng…

Trong dịp Tết của người dân Hrê, họ thường thích trò chơi nhảy kẹp. Hai người một nam, một nữ dùng một đòn nhảy dài chừng hai mét, trơn láng rồi đập vào nhau. Cứ hai người ngồi đập thì hai người nhảy, thay đổi cho nhau.

Tết Bỏ Mả của người Gia Rai

Tết Bỏ Mả của đồng bào Gia Rai ở tỉnh Gia Lai cũng tương tự như Tết Ăn Nhà Mả của đồng bào Ba Na nhưng được tổ chức lớn hơn nhiều. Trong suốt thời kỳ Bỏ Mả, bà con trong buôn làng kéo nhau đi viếng từng nhà để thưởng thức của ngon vật lạ.

Mỗi khi nghe tiếng thanh la, trống, cồng vang lên ở ngoài nghĩa địa là báo hiệu lễ Bỏ Mả. Người trong buôn nối đuôi nhau, tay cầm đuốc cháy sáng rực tiến về nghĩa địa để chia vui cùng người thân thuộc. Mọi người không quên mang theo rượu, thịt để góp vui cùng gia đình gia chủ trong suốt cuộc lễ. Tùy theo gia cảnh của từng người mà chủ lễ tổ chức đơn giản hay rườm rà. Gia chủ đứng trước ngôi mả có cắm cây nêu thường làm bằng cây gạo treo nhiều lá bùa xanh đỏ bay phấp phới theo chiều gió và đưa tay lên trời lâm râm khấn vái Giàng.

Tết của người Thái

Người Thái ở Sơn La và Lai Châu đón Tết hầu như suốt cả mùa, gọi là mùa Tết. Ðầu tiên là Tết Soong Sịp (còn gọi là Tết Cơm mới). Sau khi lúa ở ngoài đồng đã chín vàng họ giết trâu, mổ lợn, lấy lúa mới đồ xôi nếp để cúng lễ, mọi nhà đều tổ chức ăn uống vui vẻ. Sau Tết Soong Síp là Tết Kim Lao Mao (Tết Uống rượu), Tết ông Táo và lớn nhất là Tết Nen-Bươn-Tiền (Tết Nguyên đán).

Vào ngày đầu năm, họ không quên đem dao, rựa vừa đi ra đường vừa phát quang để thông thoáng cho năm mới.

Tết Cơm mới của người Ê Đê

Tết Cơm mới của người Rhadé hay người Ê Đê ở Ðắk Lắk là vào khoảng tháng 10 dương lịch, lúc ấy lúa đã chín vàng cả nương rẫy, mỗi gia đình mang gùi đi tuốt lúa về phơi khô giã lấy gạo để tổ chức ăn mừng lúa chín. Tuỳ theo gia cảnh giàu hay nghèo mà các gia đình giết trâu, bò, heo, gà nhiều hay ít.

Lễ vật đặt ở giữa nhà gồm một hay hai choé rượu cần buộc chặt vào gốc cột và vài đĩa cơm. Gia chủ hay thầy cúng sẽ lầm rầm khấn vái thần linh để cầu mong một năm mới bội mùa thóc lúa, ngô, khoai.

Tết Yang Pa của người Chơ Ro

Người Chơ Ro và Chu Ru sinh sống tại Ðồng Nai, Lâm Ðồng và Bà Rịa – Vũng Tàu. Hai Tết lớn của đồng bào Chơ Ro là Lễ cúng Thần rừng và Lễ cúng Thần Lúa vào khoảng tháng ba âm lịch.

Ngày cúng Thần Lúa cũng là lúc các cô gái trình cho buôn làng các loại bánh ngon như bánh tét, bánh ống, bánh dầy… Sau lễ cúng Thần Lúa tại nhà là bữa ăn tập thể do gia chủ đứng ra khoản đãi tại nơi hành lễ.

Tết Nhô Lir Bông của gnười Cơ Ho

Người Cơ Ho hay sinh sống ở Lâm Ðồng, họ ăn Tết sau Tết Nguyên Ðán của người Kinh ở miền xuôi độ một tháng, gọi là “Nhô Lir Bông”, tức là Tết mừng lúa về nhà (hai chữ Lir Bông có nghĩa là cót thóc). Người Cơ Ho rất quý trọng thóc lúa, vì thóc lúa là những hạt ngọc của Giàng ban phát.

Tết mừng lúa về nhà kéo dài cả tháng, được tổ chức tại kho lúa của mỗi gia đình, bắt đầu từ xế chiều với sự tham dự của chủ làng và nhiều gia chủ khác. Người ta lấy máu gà hiến sinh bôi lên vựa thóc, sàn kho, các cửa lớn, cửa sổ. Máu gà còn được trộn chung với vỏ cây đa, củ nghệ, các con mối đất, cỏ tranh giã nhỏ để bôi lên ngực, lên trán những thành viên trong gia đình, sau đó còn bôi lên những đồ gia dụng.Sau lễ cúng cót thóc trong gia đình, người Cơ Ho rủ nhau đi từ nhà này sang nhà nọ để ăn uống, ca hát, nhảy múa chung vui, cứ thế cho đến cả tháng trời mới mãn.

Minh Anh

Người “ghét” lửa
Chủ tịch Hồ Chí Minh và những ngày 19/5
Nơi nào gian khó, luôn có các anh