Tục thờ ngựa trong văn hóa tâm linh người Việt

Tục thờ ngựa là một tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Ở Việt Nam, hình ảnh con ngựa đã in sâu vào tâm trí của nghệ sĩ dân gian, họ yêu thích, quý mến loài ngựa, muốn biến hình ảnh con ngựa thành một hình tượng nghệ thuật có tầm vóc ngang hàng với những linh vật khác được tôn thờ ở Việt Nam.

 

Trong đời sống tâm linh, Phù Đổng Thiên Vương chính là một trong tứ bất tử, câu chuyện nổi tiếng và đặc sắc nhất về con ngựa được lưu truyền trong dân gian Việt Nam chính là con ngựa sắt của Thánh Gióng,. Ngựa thần gắn liền với hình ảnh của Thánh tướng được người dân tôn thờ và tưởng nhớ công lao. Hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa thần tung vó bay lên trời biểu trưng cho tinh thần tự do, không khuất phục trước khó khăn luôn vươn lên phía trước. Đây cũng được coi là một trong những biểu tượng của lòng dũng cảm, của ý chí, sự kiên cường và gắn với những chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm.

 

Thờ ngựa gỗ ở đền Hiệp Hòa, Bắc Giang .

 

            Ngựa trắng được thờ trong đền Bạch Mã

 

Ở miền Bắc, trong nghi lễ lên đồng của người Việt, thầy đồng trong các giá thần linh (nhất là các giá ông Hoàng, giá Cậu) thường có điệu múa nhảy ngựa. Chiếc hèo có gắn lục lạc bằng đồng làm đạo cụ chính là cách gọi khác của chiếc roi ngựa. Hành động nhảy chân co, chân duỗi, tay đánh mạnh các thanh hèo là động tác đặc tả về sự hiện diện của các vị thần linh đang cưỡi ngựa xuống trần. Người xưa còn vẽ những con Long Mã (ngựa thần) có đầu rồng, mình ngựa, trên lưng đội một bản đồ chính là sách quý mệnh trời để trị vì thiên hạ. Theo tâm thức dân gian, Long Mã chính là hóa thân của con lân, một con vật trong tứ linh có mặt trên đỉnh cột của nghi môn, đầu góc mái, các mảng chạm trổ đình chùa. Đặc biệt, Long Mã thường chiếm vị trí trung tâm của nhang án có niên đại vào thế kỷ XVIII, XIX. Dẫu tạo hình khác nhau ít nhiều, nhưng Long Mã nào cũng phải có cái nét dễ nhận thấy của ngựa.

Ngựa còn được người Việt thờ trong những bức tranh giấy thờ cặp ngựa hồng, ngựa trắng. Tại các ngôi đình có tượng ngựa gỗ, đứng trên bốn bánh xe bày trong gian Tiền Tế. Nhiều ngôi đình còn có tượng ngựa đá bày giữa sân trông khá oai nghiêm. Trong các đền chùa ở Việt Nam vào thời Lê-Mạc, có hình ảnh ngựa có cánh, được trang trí trên đồ gốm, trên gạch. Trong quan niệm về tâm linh, sau khi quá cố, khuôn viên lăng mộ phải có tượng ngựa đá đôi con, quan hầu đôi vị. Những ông Quận công triều Lê Trung Hưng thường xây cho mình những lăng đá,ngựa đá đẹp, ngày nay còn  thấy ở huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang.

Tại Hà Nội, Ngựa trắng còn được tôn lên làm thần và được thờ ở đền Bạch Mã nay ở phố Hàng Buồm. Sử cũ ghi: “Trong tàu ngựa nhà vua, có con ngựa trắng, phàm khi vua sắp đi thì nó tất hí lên trước. Vua đặt tên là Bạch Long thần mã“. Từ truyền thuyết một đêm vua nằm mộng thấy một con ngựa trắng nói tiếng người: “Mạch đất Long Biên rất thiêng, nay đắp thành, mạch sẽ tắc nên cho đào một cái cừ thông sang sông Thiên Phù và Tô Lịch để mạch lưu thông, nếu không chỉ phí công”. Tỉnh giấc, vua bèn làm như lời ngựa trắng. Thành xây được. Khi hoàn tất có con ngựa trắng hiện cạnh thành. Quân sĩ đuổi đi, ngựa chạy đến đền Long Đỗ thì mất dấu. Vua cho đó là hiện thân của thần Long Đỗ và phong là Bạch Mã đại vương. Đền Bạch Mã trấn giữ phía là một trong tứ Trấn của kinh thành Thăng Long xưa. Được xây dựng từ thế kỷ 9 để thờ thần Long Đỗ – vị thần gốc của Hà Nội cổ. Dấu ấn Bạch mã trở nên rất sâu sắc đối với văn hóa Đại Việt đời Lý, thậm chí vua Lý Thái Tổ còn đặt tên con trai mình là Lý Phật Mã.

 

Ở Huế, tục thờ ngựa có từ lâu đời, nhất là ở các am, miếu và đền đài, người dân thờ ngựa đá, thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần thánh của đất nước. Có quan niệm các thần, ngài luôn ngự trị ở đâu đây trên đất Huế vì thế ngựa được người ta xem như một linh vật cho các ngài (thần) đi lại, đi chầu, hoặc giảng đạo. Khi làm ngựa thờ, người thợ phải hiểu rõ ngựa dùng ở cõi nào, ví dụ ở cõi thượng thiên (cõi trên trời) thì phải làm khác với ngựa thờ ở am miếu cõi trung thiên (cõi trần gian). Tại các am miếu vừa có ngựa đá, ngựa giấy và ngựa gỗ, với hai màu chủ đạo là màu đỏ và màu trắng, và mỗi màu sắc có ý nghĩa đặc biệt đối với một vị thần. Ngựa đỏ để thờ lục vị tôn ông (quan lớn), ngựa trắng dành cho các cậu ngoại càng (quan nhỏ). Mỗi năm một lần, người dân đều dâng các ngài một cặp ngựa đỏ thờ trước am điện, để tôn ông ngự giá, chu du, hành đạo. Vì các bậc thánh nhân ở cõi thượng thiên di chuyển theo hướng bay là chủ yếu nên ngựa đã lắp thêm đôi cánh. Ngựa trắng để thờ các quan thần nhỏ, được làm với kích thước nhỏ, như ngựa ra chiến trận, có yên ngựa, dây cương, đao kiếm, thờ phổ biến nhất ở các am miếu ngoài trời, bên cạnh những bát nhang.

Ngoài ra ở Huế người dân còn thờ ngựa đen, dâng ông Chiêm Thành, thờ ngựa xanh lục cho Thái tử Đông Cung và ngựa vàng cho Ngài đệ nhị. Tại đền Quan Thánh, và đền thờ Hưng Đạo Đại Vương ở đường Chi Lăng, cặp ngựa đá được làm y như ngựa thật, hai con đối xứng nhau trong tư thế sẵn sàng xuất quân đặt trang trọng trước đền. 03 cặp ngựa giấy màu trắng, đen, đỏ là vật không thể thiếu để đốt cho các ngài trong dịp cuối năm. Vì sự linh thiêng nên ngựa làm cũng rất công phu, tỉ mỉ, phải làm giống y như thật và tuyệt đối cấm kị khi làm thiếu một bộ phận, chi tiết nào đó của ngựa, vì như vậy là xúc phạm thần linh. Khi đã thờ ngựa đá lên am, miếu thì tuyệt nhiên không có những người nào dám mạo phạm, xúc phạm đến thần ngựa, người dân luôn tin ngựa đó là ngựa thần.

Trong Lăng mộ các vua nhà Nguyễn ở Huế hình tượng con ngựa luôn xuất hiện tại nơi chốn linh thiêng này vì đứng đầu trong tứ linh và là biểu tượng của thiên tử. Tại 6 khu lăng của các vua nhà Nguyễn, từ lăng Gia Long tới lăng Khải Định, từ Cửu đỉnh nơi Thế Tổ Miếu, đến Khải Thành Điện mỗi lăng đều có hai tượng văn, võ và voi ngựa chầu hầu. Tại đây ngựa đứng vào bậc ba, sau văn quan, võ quan và trên những ông tượng (ông voi).

Ở Miền Nam, những con ngựa hùng dũng, mạnh mẽ chính là loài vật đã gắn liền với những bước chân đầu tiên của những người dân mang gươm đi mở cõi, từ mấy trăm năm trước. Ngựa không chỉ giúp vượt qua núi cao, sông dài, mà chúng còn giúp những cư dân đầu tiên ấy chiến đấu giữ vững mảnh đất màu mỡ phì nhiêu, nên nhiều vùng quê ở phương Nam có phong tục thờ ngựa. Ngựa được đắp tượng, được cúng bái như những vị thần khắp các tỉnh miền Nam. Hầu hết tượng ngựa được thờ đều là ngựa của danh tướng, những người đã có công mang quân đi khai hoang mở cõi sơn hà, giúp dân lập châu, lập phố nên ngựa được người dân đúc tượng thờ để ghi công.

Tại Bình Dương, Chùa Ông hay còn gọi là Chùa Ông Ngựa hay Miếu Thanh An là một ngôi chùa cổ có tuổi đời gần 100 năm có kiến trúc đậm nét cung đình Huế. Cổng chùa có một pho tượng ngựa Xích Thố rất lớn chắn ngang đường, muốn đi qua cổng để vào chùa đều phải chui qua bụng con ngựa này cách mặt đất chừng 1m.. Nghệ nhân dựng tượng ở tận Thừa Thiên Huế, chế tác từ cuối năm 1930. Để dựng pho tượng ngựa, chủ nhân phải bỏ ra chi phí gần hai chục lượng vàng. Ngựa được khắc tạc kì công màu đen, bờm màu huyết dụ, có yên cương nạm trổ rất tinh xảo và sinh động ở trong tư thế như đang bay ngang qua cổng chùa. Tượng ngựa dài chừng 3m, cao 2m, được làm bằng sắt, bê tông rất kiên cố với nhiều chi tiết công phu. Trên lưng ngựa có gắn yên, chạm khắc văn thư, cổ đeo. Có lời đồn là Ngựa Thần hay giúp đỡ người nghèo qua cơn hoạn nạn, nên họ tìm đến chùa Ông để chiêm bái, cúi đầu luồn qua bụng ngựa ngay cổng chính lấy may, cầu mong gia đạo êm ấm, con cháu thành tài. Ngôi chùa ngoài Phật, còn thờ Quan Công, Đức thánh Trần Hưng Đạo, và án thờ 30 vị anh hùng lịch sử như Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung để tỏ lòng tri ân.

Ở Hậu Giang có chùa Già Lam Cổ Tự (chùa Ngựa) nằm bên Quốc lộ 1 ở ấp Xẻo Vông, TP. Ngã Bảy là ngôi chùa nhỏ nổi tiếng vì có thờ một bức tượng ngựa linh thiêng được xây dựng bởi những người dân trong vùng. Chùa thờ Quan Công mà lại không có tượng ngựa nên có người khách phương xa đến chùa cúng dường chùa một khoản tiền để dựng tượng ngựa. Bức tượng ngựa khá lớn ở trong khuôn viên chùa và cũng được nhang khói.

Ở vùng Tây Ninh, đền thờ các vị có công khai phá, mở đất lập làng, những người có công ra trận, đánh giặc cứu dân đều có tượng ngựa cho các ngài đi. Tập quán ấy phổ biến, nên sau này miếu thờ các thành hoàng làng luôn có ngựa. Ở miếu thờ Ông (Quan Công), Bà Thiên Hậu, miếu Ngũ Công Vương Phật, miếu Thổ Chủ, Ngũ Hành hay đình Gia Lộc thờ thành hoàng Đặng Văn Trước, ở khu mộ của ngài cũng bày tượng ngựa… Tại các ngôi miếu nhỏ thờ ông Tà, thờ binh gia tướng sĩ thì có tượng ngựa nhỏ như trường hợp ở miếu Bà Chúa Xứ Thanh Điền. Các đền, miếu, dinh thờ Quan Lớn Trà Vong, có đến hơn 10 nơi ở Tây Ninh đều có ngựa; Ở các ngôi thờ tại Trạm Bơm P.1 (TP Tây Ninh), hoặc các miếu thuộc huyện Châu Thành, thường có mặt đôi ngựa, một hồng, một bạch đứng ngang hoặc ngay trước hai bên bàn thờ. Tại dinh quan lớn đại thần Trần (hoặc Huỳnh) Công Thắng tại Cẩm Giang (Gò Dầu) thì đôi ngựa một hồng, một tím.

Còn trên đền Suối Vàng, xã Thạnh Tân lại là đôi ngựa một nâu, một bạch lai hồng đều to như ngựa thật. Các ngôi miếu nhỏ thờ thần tài, sơn thần thổ địa đến binh gia tướng thường thờ tượng ngựa nhỏ. Đặc biệt trong gian hậu điện có tới cả trăm tượng ngựa xếp hàng. Đình Gia Lộc thờ thành hoàng Đặng Văn Trước ở Trảng Bàng có thờ một pho tượng ngựa lớn màu hồng. Ban hội đình có nuôi một cô ngựa sống để phục vụ cho lễ hội Kỳ yên, để hai năm đáo lệ một lần, trong lễ rước sắc thần từ miếu ông Cả ra đình lại có con ngựa hồng đi cùng. Đây cũng là nơi duy nhất trong tỉnh Tây Ninh có ngựa sống tham gia trong lễ hội.

Địa điểm thờ ngựa nổi tiếng nhất ở T.P Hồ Chí Minh chính là dinh thờ Tả quân Lê Văn Duyệt ở Q. Bình Thạnh. Trong dinh thờ có đúc tượng 03 ngựa thần để canh cổng vào, nhân dân hay tìm đến những con ngựa ở hai bên tả, hữu lăng khấn cầu may bằng nghi thức vỗ về bộ yên cương, tự tay rung chiếc lục lạc đeo ở cổ ngựa thần. Tiếng lục lạc vang lên càng ngân nga thì chứng tỏ thần ở trên cao linh thiêng càng thấu rõ tâm nguyện của người cầu khấn. Tượng ngựa của Đức Thánh Trần Hưng Đạo nằm trên đường Võ Thị Sáu p.Tân Định, Q.1, T.P Hồ Chí Minh cũng được người dân tôn thờ. Tại đây, còn có một cặp ngựa màu trắng và đỏ tương truyền là ngựa Xích Thố, từng giúp Thánh Trần đánh giặc cứu dân. Người dân thường tìm tới đây để nhang khói. Họ sờ bụng ngựa, vuốt lưng ngựa để cầu an lành, ngồi dưới bụng ngựa để tìm sự may mắn, sức khỏe thịnh vượng./.

Thùy Dương

 

Những bài học rất đời
Hội thi Chung kết “Cán bộ Hội Phụ nữ duyên dáng, tài năng Khu vực phía Bắc năm 2019″
XIN CHỮ ĐẦU XUÂN – NÉT ĐẸP VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT