Mỗi độ Xuân về, giữa những con phố cổ rộn ràng, đền Bạch Mã lại bước vào mùa lễ hội tưng bừng nhất trong năm. Từ sáng sớm, những đoàn người nô nức đổ về ngôi đền linh thiêng trấn giữ phía Đông kinh thành Thăng Long xưa, để dâng nén hương thành kính và hòa mình vào không khí lễ hội mang đậm hồn cốt Thăng Long – Hà Nội. Lễ hội đền Bạch Mã không chỉ là nét sinh hoạt tín ngưỡng lâu đời, mà còn là sự tiếp nối những giá trị văn hóa của mảnh đất nghìn năm văn hiến.
Tượng bạch mã tại đền thờ Bạch Mã.
Đền Bạch Mã tên chữ: “Bạch Mã tối linh từ” tọa lạc tại số 76 Hàng Buồm, xưa thuộc phía Đông kinh thành Thăng Long, nơi dân gian tin rằng có long mạch tụ hội và là cửa ngõ quan trọng của vùng đất kinh kỳ. Theo truyền thuyết và thần phả, vào năm 1010, vua Lý Thái Tổ cho dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội) và muốn mở rộng thêm thành Đại La. Vua Lý Thái Tổ lệnh cho đắp thành nhưng hễ cho lấp đất lên lại bị sụt lún, vẫn về hình hài như cũ. Khi ấy nhà vua được mách về ngôi miếu thờ Thần Long Đỗ, vị thần bản thổ đã cai quản vùng đất này từ lâu đời. Vua Lý Thái Tổ bèn cho rước Thần về trợ giúp. Đêm ấy, trong giấc mơ, nhà vua thấy một con ngựa trắng hiện ra chạy quanh khu vực đất thành để lại dấu chân vạch rõ ranh giới bền vững. Dựa theo đó, vua cho xây lại, và lần này thành đứng vững, từ đó mở ra triều đại thịnh trị. Để tạ ơn, nhà vua sắc phong Thần Long Đỗ làm Thành hoàng của Thăng Long, cho xây dựng đền thờ và gọi là đền Bạch Mã, nhằm ghi dấu sự linh ứng của con ngựa trắng trong giấc mộng.
Đền Bạch Mã là một trong “Thăng Long tứ trấn”, bốn ngôi đền linh thiêng giữ bốn hướng kinh thành bao gồm: Đền Bạch Mã trấn phía Đông, Đền Voi phục trấn phía Tây, Đền Kim Liên trấn phía Nam, đền Quán Thánh trấn phía Bắc. Trong đó, Bạch Mã được coi là cổ nhất, hình thành ngay từ buổi đầu lập đô. Vị thần trú ngụ tại đây, Thần Long Đỗ được xem là “thổ thần của đất Thăng Long” được xem là vị thần che chở, giữ long mạch, giữ bình yên cho kinh đô.
Tại Đền Bạch Mã, trải qua các triều đại, các vua Lý, Trần, Lê, Nguyễn đều sắc phong, tu sửa dâng lễ tế để bày tỏ lòng biết ơn. Mỗi khi đất nước gặp thiên tai, dịch bệnh, giặc ngoại xâm, triều đình đều tổ chức lễ cầu đảo, cầu an ở đền Bạch Mã. Từ một ngôi đền làng, đền trở thành trung tâm tín ngưỡng mang tính quốc gia, gắn với vận mệnh của Thăng Long, Hà Nội.
Dù phố Hàng Buồm nay tấp nập du khách, đền Bạch Mã vẫn giữ được vẻ uy nghi cổ kính với cổng tam quan, nghi môn, tượng ngựa trắng, các bức hoành phi đại tự, long ngai, kiệu bát cống…, tất cả hòa quyện thành không gian linh thiêng. Hiếm nơi nào trong phố cổ còn giữ trọn vẹn đến vậy. Không chỉ mang ý nghĩa tâm linh, đền còn là nơi ghi lại dấu ấn kiến trúc truyền thống. Các mảng trạm khắc rồng thời Lê, hoành phi câu đối thời Nguyễn, tượng pháp cổ… tạo nên giá trị nghệ thuật đặc sắc. Đền Bạch Mã là một “bảo tàng” nhỏ của kiến trúc truyền thống mang đậm phong cách thời Nguyễn (thế kỷ 19) với kết cấu hình chữ “Tam” khép kín, nổi bật với mái cong đao vút, hệ thống cột gỗ lim lớn, bộ vì “giá chiêng chồng rường con nhị”, đặc biệt là các mái vòm hình “mai cua” nối liền các khu vực và những hoa văn rồng phượng chạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng, thể hiện sự uy nghiêm và giá trị nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Trang trí tường vàng ấm áp, cửa gỗ đỏ, rồng vàng, hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng, phù điêu tinh xảo, mang đậm dấu ấn triều Nguyễn. Cung cấm là nơi đặt tượng Thần Bạch Mã (Long Đỗ), nơi đây lưu giữ nhiều hiện vật quý giá như: Long ngai, hoành phi “Đông trấn linh từ”, vũ khí cổ, văn bia, và đặc biệt là chiếc giếng “huyệt thông âm”.
Lễ hội đền Bạch Mã được tổ chức hằng năm vào 12 tháng Hai Âm lịch, nối tiếp truyền thống từ hàng trăm năm nay. Đây là thời điểm Xuân đã sang, tiết trời thanh dịu, lòng người cũng hân hoan cho những hoạt động hướng về tâm linh, về nguồn cội. Trước ngày chính hội, dân làng và Ban Quản lý di tích chuẩn bị cờ lọng, kiệu rước, đồ tế lễ, lau rửa tượng pháp, chấn chỉnh không gian thờ tự. Không khí lễ hội lan tỏa khắp khu phố Hàng Buồm, nơi vốn đã sầm uất suốt bao thế kỷ. Lễ tế thần được tổ chức trang trọng trong tiền tế và hậu cung. Các bậc cao niên uy tín thay mặt dân làng đọc văn tế, kính cáo Thành hoàng Long Đỗ về sự thành tâm của con dân đất Thăng Long. Văn tế từ lâu đã trở thành phần linh hồn của lễ hội, thể hiện sự tri ân, gắn bó và niềm mong cầu bình an, mùa màng tốt tươi.
Lễ rước kiệu là phần được mong chờ nhất. Kiệu thờ tượng trưng cho Thần Long Đỗ được khiêng đi qua các phố quanh Hàng Buồm, tái hiện hành trình thần đi tuần tra, giữ bình yên cho kinh thành xưa. Đi đầu là đội múa lân, sau đó là nghi trượng cờ lọng, đội nhạc bát âm, các chức sắc, dân làng và đông đảo nhân dân. Từ sáng sớm, đội rước kiệu của đền Bạch Mã sẽ được giao trọng trách cho những người đàn ông “lão làng” dẫn đoàn đi khởi hành từ đền Mã Mây đi qua các con phố lớn để về đến đền Bạch Mã. Đi đầu là đội múa rồng, sư tử; tiếp đến là đội cờ, trống chiêng, sinh tiền, đánh bồng, bát âm; đội kiệu lễ vật và đội kiệu bát cống với đầy đủ tàn, tán, lọng; đội tế nam quan; dâng hương nữ. Trong đoàn rước còn có mục đồng và mô hình trâu với kích thước bằng trâu thật để làm Lễ tiến Xuân Ngưu. Sau phần Lễ tế Thánh, mô hình trâu được làm bằng với kích thước trâu thật sẽ được rước từ đền Bạch Mã đến bờ Sông Hồng để làm lễ “hóa” tiến Xuân Ngưu – Đây là một nghi thức quan trọng của hội đền Bạch Mã. Vào đầu giờ chiều, đội tế nữ sẽ đền Bạch Mã dâng hương lễ Thánh. Sau đó, nhân dân cùng du khách thập phương sẽ bước vào lễ Thánh. Một nét đẹp của lễ hội là sự tham gia tự nguyện của cư dân phố cổ: người bưng mâm lễ, người gánh hoa, người đi bên hàng kiệu. Những ngôi nhà dọc đường rước đều mở cửa, đốt hương, treo cờ, tỏ lòng thành kính khi kiệu thần đi qua.
Ngày 13/02 (Âm lịch) là ngày cuối cùng của Lễ hội. Vào buổi sáng, các cụ ông trong trang phục truyền thống của đội tế nam đền Bạch Mã tập trung tại đền để làm Lễ tế Thánh. Buổi chiều, các đội tế nam và dâng hương nữ của các ngôi làng gần xa đền Bạch Mã vào làm Lễ tế Thánh. Sau khi các làng lân cận làm lễ xong sẽ chính thức kết thúc là Lễ tế giã hội của đội tế nam đền Bạch Mã.
Song song với nghi lễ tâm linh, lễ hội đền Bạch Mã còn có nhiều hoạt động văn hoá dân gian như: hát cửa đình, ca trù, hát thờ, đây là những loại hình gắn liền với sinh hoạt đình, đền cổ, các trò chơi dân gian: đánh cờ người, kéo co, đi cà kheo, bịt mắt bắt dê,… Trình nghề thủ công truyền thống: tăm hương, giấy dó, tranh dân gian… trưng bày di sản phố cổ như “Ảnh xưa của phố Hàng Buồm”, các sắc phong của đền qua từng triều đại… Những hoạt động này khiến lễ hội không chỉ mang tính tín ngưỡng mà còn trở thành “không gian văn hoá sống”, tái hiện cả một phần đời sống xưa của cư dân Kẻ Chợ.
Đền Bạch Mã là một trong số ít di tích còn giữ được không gian thờ tự cổ giữa phố cổ Hà Nội – nơi đa phần đã đô thị hóa mạnh mẽ. Lễ hội diễn ra hằng năm như một nhịp cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp người trẻ hiểu rằng Thăng Long không chỉ hình thành từ những trang sử, mà còn từ niềm tin tâm linh. Lễ hội đền Bạch Mã góp phần duy trì hệ thống tín ngưỡng cực kỳ quan trọng của kinh thành xưa. Mỗi trấn ứng với một hướng, một vị thần và một chức năng khác nhau. Nhờ đó, lễ hội mang giá trị lịch sử đặc biệt, gìn giữ một mô hình kiến trúc tâm linh hiếm thấy ở Việt Nam trong việc khẳng định bản sắc của “Tứ trấn Thăng Long”.
Hằng năm, lễ hội thu hút hàng nghìn lượt du khách trong và ngoài nước. Nhiều người tìm đến để hiểu thêm về lịch sử Thăng Long, số khác muốn trải nghiệm văn hoá bản địa. Điều này giúp Hà Nội vừa phát huy giá trị di sản, vừa phát triển du lịch nhân văn, bền vững (tham gia xem biểu diễn các tiết mục nghệ thuật dân tộc như: chầu văn, ca trù, chèo, quan họ; trình diễn võ thuật phục vụ nhân dân tại sân khấu ngoài trời và trong sân đình đền Bạch Mã).
Ngày nay, Hà Nội phát triển mạnh mẽ, những tòa nhà cao tầng mọc lên, dòng người hối hả ngày đêm. Thế nhưng mỗi dịp tháng Hai Âm lịch, phố Hàng Buồm bỗng chậm lại. Người trẻ dành nhiều thời gian hơn để cùng gia đình thắp hương, tham dự kiệu rước, nghe các bậc cao niên kể chuyện xưa. Điều đáng quý nhất là lễ hội không bị thương mại hoá quá mức, nó vẫn giữ được vẻ trang trọng, vẫn là dịp để người Hà Nội “rửa lòng”, xin lộc đầu Xuân, tưởng nhớ vị thần đã che chở cho đất kinh kỳ. Trong xu thế đô thị hóa, lễ hội đền Bạch Mã trở thành một minh chứng rằng: muốn phát triển bền vững, một thành phố cần biết giữ gìn những “mỏ neo văn hóa”. Đền Bạch Mã chính là một trong những “mỏ neo” ấy – một điểm tựa để ký ức Thăng Long không bị lãng quên.
Lễ hội đền Bạch Mã không chỉ là một ngày hội đơn thuần, mà còn là sự tiếp nối của nghìn năm văn hiến. Từ truyền thuyết Long Đỗ, ngựa trắng giúp vua dựng thành, đến những nghi thức trang trọng hôm nay, lễ hội là chiếc cầu nối vững chãi giữa quá khứ và hiện tại. Trong ngày hội đầu Xuân ấy, khi tiếng trống hội vang lên giữa phố cổ, mỗi người lại cảm nhận sâu sắc hơn rằng Thăng Long, Hà Nội không chỉ được xây bằng bàn tay con người, mà còn được nâng đỡ bởi tâm linh, tín ngưỡng và lòng tri ân của cả cộng đồng. Đền Bạch Mã và lễ hội của nó sẽ còn mãi mãi là di sản sống, là lời nhắc nhở để người Hà Nội hôm nay biết trân trọng những giá trị đã làm nên bản sắc của mảnh đất này suốt hơn một nghìn năm qua./.